Một số nghiên cứu gần đây đề nghị thận trọng với mốc thời gian diễn ra vở cải lương đầu tiên tại Rạp hát Thầy Năm Tú.
1918 – một mốc thời gian đã được “hành chính hóa”
Trong nhiều tài liệu phổ biến, Rạp hát Thầy Năm Tú (TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, nay thuộc phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp) được xem là “cái nôi” của sân khấu cải lương.
Câu chuyện quen thuộc thường được kể lại như sau: sau khi sang lại gánh hát của Thầy Thận, còn gọi là André Thận (Sa Đéc), Thầy Năm Tú (tên thật Châu Văn Tú) cải tạo rạp chiếu bóng Cinéma Palace gần chợ Mỹ Tho thành không gian biểu diễn cải lương.

Tại đây, sân khấu được tổ chức theo lớp tuồng, có họa sĩ vẽ cảnh trí, lịch diễn cố định. Vở diễn thường được nhắc đến là Kim Vân Kiều, cải biên từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, do Trương Duy Toản soạn. Nhiều tài liệu địa phương ghi nhận thời điểm này là ngày 15.3.1918.
Theo thời gian, mốc 1918 được sử dụng phổ biến đến mức trở thành một “chuẩn mực” trong cách kể lịch sử cải lương. Từ đó, nhiều hoạt động bảo tồn và tôn vinh giá trị nghệ thuật cải lương được triển khai.

Năm 2010, Rạp hát Thầy Năm Tú được trùng tu; năm 2012 được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Năm 2022, rạp được vinh danh trong danh sách “Top 100 Kỷ lục bất biến Việt Nam” với danh xưng “rạp hát cải lương đầu tiên tại Việt Nam”.
Có thể nói, mốc 1918 đã dần được “hành chính hóa”, trở thành một dữ kiện quen thuộc trong đời sống văn hóa và quản lý di sản.
Nhìn lại lịch sử từ góc độ nghiên cứu
Tuy vậy, trong giới nghiên cứu, câu hỏi về tính chính xác của mốc 1918 ngày càng được đặt ra. Nguyễn Đức Hiệp trong công trình Nghệ thuật sân khấu: Hát bội, Đờn ca tài tử và Cải lương ở Sài Gòn và Nam kỳ cuối thế kỷ XIX đến 1945 (2017) và Nguyễn Tuấn Khanh trong Bước đường của cải lương (2018), Thiện Mộc Lan, trong tác phẩm “Nữ sĩ tiền phong Năm Sa Đéc và nghệ thuật sân khấu Nam Bộ” (2018) đều cho rằng mốc 1918 chưa thật sự thuyết phục nếu xét trên phương diện lịch sử tổ chức gánh hát.

Theo các tư liệu được dẫn, vào thời điểm 1918, Thầy Năm Tú chưa sở hữu gánh hát của André Thận. Nguyễn Tuấn Khanh viết rằng do làm ăn thua lỗ, André Thận đưa gánh hát lên Sài Gòn diễn lần cuối tại rạp Modern vào ngày 19.3.1922, sau đó rã gánh. Chính từ lực lượng đào kép của gánh André Thận, Châu Văn Tú mới tập hợp lại để thành lập gánh cải lương.
Một chi tiết khác cho thấy đến năm 1920, André Thận vẫn còn phát động bán trái phiếu để đầu tư thêm cho gánh hát. Điều này cho thấy việc chuyển giao gánh hát cho Thầy Năm Tú diễn ra muộn hơn so với mốc 1918 thường được nhắc đến.

Từ góc độ này, nếu xét theo tiêu chí chủ thể lịch sử, việc khẳng định rằng “Rạp hát Thầy Năm Tú tổ chức cải lương từ năm 1918” chưa thật sự có cơ sở vững chắc.
Viết lại lịch sử không phải để phủ nhận
Việc đặt lại vấn đề về mốc thời gian không nhằm phủ nhận vai trò của Rạp hát Thầy Năm Tú trong lịch sử cải lương. Ngược lại, đó là cách tiếp cận thận trọng để hiểu rõ hơn vị trí của rạp hát này trong tiến trình hình thành một loại hình sân khấu đặc thù của Nam Bộ.

Hồ sơ di tích không phải là kết luận cuối cùng của khoa học lịch sử; kỷ lục không đồng nghĩa với chân lý học thuật. Trong khi đó, báo chí và giới nghiên cứu có trách nhiệm đặt câu hỏi, mở rộng cách nhìn, nhằm giúp lịch sử được nhận thức đầy đủ hơn.
Từ góc nhìn ấy, Rạp hát Thầy Năm Tú không chỉ là “điểm khởi đầu” được gắn với một con số cụ thể, mà là một mắt xích quan trọng trong quá trình hình thành cải lương – một quá trình diễn ra liên tục, nhiều tầng nấc, với sự tham gia của nhiều chủ thể và không gian văn hóa khác nhau.

Chỉ khi nhìn lịch sử bằng cái nhìn đa chiều và tỉnh táo, chúng ta mới có thể hiểu đúng giá trị của cải lương – một di sản văn hóa không ra đời trong một khoảnh khắc, mà được kiến tạo qua cả một hành trình sáng tạo lâu dài của cộng đồng nghệ sĩ và công chúng Nam Bộ.
Nguồn: https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/rap-hat-thay-nam-tu-tu-huyen-thoai-1918-den-su-that-lich-su-1647535.ldo