Những mô hình này không chỉ tận dụng tốt lợi thế mùa nước nổi, giúp giảm thiểu rủi ro, chi phí sản xuất mà còn hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, “thuận thiên”, góp phần bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và phát triển bền vững cho vùng ĐBSCL.
Nuôi cá, tôm, vịt trong ruộng lúa, nông dân Đồng Tháp mùa nào cũng có tiền
Tỉnh Đồng Tháp là địa phương đi đầu trong việc triển khai các mô hình sinh kế thích ứng với lũ trong khuôn khổ Tiểu dự án WB9 – ICRSL, với tổng diện tích vùng dự án 22.806 ha, thuộc 4 huyện: Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình và thành phố Hồng Ngự trước sáp nhập.
Các mô hình được Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đồng Tháp thực hiện nhằm mục đích tạo được điều kiện sản xuất kết hợp, lựa chọn được các loại hình sinh kế trong mùa lũ, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún và khô hạn, để cho người dân vùng dự án có thêm thu nhập, đảm bảo ổn định và an sinh xã hội trong mùa lũ, tránh gia tăng tỷ lệ hộ nghèo hoặc tái nghèo; đồng thời góp phần nâng cao giá trị gia tăng của việc sản xuất trong vùng và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp mùa lũ.
Trong đó, mô hình 2 lúa – 1 cá phù hợp ở các vùng đầu nguồn, địa hình thấp, nước lũ ngập sớm, cá tự nhiên còn nhiều. Nông dân chỉ cần đầu tư hệ thống mương chung quanh ruộng để giữ cá, đăng lưới nhử cá tự nhiên, thực hiện ương, dưỡng và thả cá giống.
Lợi nhuận trung bình mô hình đạt 47,8 triệu đồng/ha/năm, tăng 14,7 triệu đồng/ha/năm so với ngoài mô hình. Trong đó lợi nhuận từ sản xuất lúa tăng hơn 5,8 triệu đồng/ha do áp dụng các biện pháp kỹ thuật, giảm chi phí đầu vào và lợi nhuận từ việc nuôi, trữ cá tăng hơn 8,8 triệu đồng/ha.

Đơn cử, tại Tổ nuôi trữ cá mùa lũ ấp Giồng Bàng (xã Thường Phước, tỉnh Đồng Tháp), một số nông dân đã góp tiền, góp công cùng nhau bao lưới để nuôi trữ cá đồng và thu hoạch khi nước lũ rút, mô hình này giúp bà con có sinh kế mùa lũ. Năm đầu tốn nhiều chi phí để đầu tư mua ngư cụ, song những năm sau chi phí rất thấp. Năm 2024, tổ thu hoạch được hơn 10 tấn cá đồng các loại (cá lóc, cá rô, cá trê, cá chốt…), thu khoảng 200 triệu đồng.
Với mô hình lúa + vịt – cá, bà con cần có sự đầu tư từ từ theo khả năng vốn và kỹ thuật, đặc biệt là việc bố trí sản xuất liên hoàn của việc trồng lúa, nuôi vịt và nuôi, nhữ cá. Tổng lợi nhuận của mô hình ước đạt 64,7 triệu đồng/ha/năm (chưa tính lượng cá còn nuôi trữ chưa thu hoạch), tăng 34,6 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình. Đây là mô hình cho hiệu quả tốt nhất trong các mô hình của Dự án.
Mô hình 2 lúa – 1 tôm cho tổng lợi nhuận 15,8 triệu đồng/ha, cao hơn 4,5 triệu đồng/ha/vụ so ngoài mô hình. Trong đó lợi nhuận từ sản xuất lúa đạt 20,2 triệu đồng/ha/vụ, nuôi tôm bị lỗ 4,8 triệu đồng/ha do nước lũ về muộn và thấp nên thời gian thả tôm ra ruộng ngắn, tôm nuôi trong ao chậm phát triển, sản lượng thấp, chi phí tăng.
Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đồng Tháp cũng thực hiện mô hình 2 màu – 1 cá, phù hợp với yêu cầu tiết kiệm nước, có khả năng cho lợi nhuận cao hơn so với lúa; tuy nhiên người dân cần có sự năng động, nhạy bén trong chọn lựa cây trồng phù hợp với điều kiện đất, thị trường và liên kết tiêu thụ. Tổng lợi nhuận mô hình đạt 58,4 triệu đồng/ha/năm, tăng 32,4 triệu đồng/ha/năm so với ngoài mô hình.

Theo đánh giá của Trung tâm Khuyến nông Đồng Tháp, tổng lợi nhuận của 12 mô hình trong 4 loại hình sinh kế nói trên đều tăng hơn so với ngoài mô hình do kết hợp nhiều loại hình sản xuất, giảm chi phí vật tư đầu vào (giống, thức ăn, phân thuốc BVTV,…). Trong đó, loại hình sinh kế 2 lúa – 1 cá là phổ biến nhất trong vùng Dự án vì tương đối dễ thực hiện, tạo thêm việc làm, thu nhập cho lao động nhàn rỗi trong mùa lũ, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời tạo được vùng đệm trữ lũ, thoát lũ theo mục tiêu của Dự án.
Các mô hình sinh kế đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội so với sản xuất truyền thống ở ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Cụ thể, về kinh tế giúp tăng lợi nhuận 20–60%, giảm chi phí đầu vào 10–15% nhờ tận dụng tài nguyên tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp. Về xã hội: Tạo việc làm trong mùa nhàn rỗi, giảm nghèo, tăng cường năng lực thích ứng của cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ và người lớn tuổi.
Về môi trường: Góp phần duy trì vùng trữ lũ, giảm ngập sâu cho hạ lưu, bảo tồn nguồn lợi thủy sản tự nhiên và đa dạng sinh học.
Đáng nói từ các mô hình trên, một số HTX đã có sáng kiến tận dụng lợi thế mùa nước nổi để nuôi trữ cá tự nhiên kết hợp phát triển du lịch cộng đồng. Trên cánh đồng mùa nước nổi, du khách được chèo xuồng, trải nghiệm tắm sông, giăng lưới, đặt dớn, hái bông súng, đặc biệt là thưởng thức các món ăn đồng quê trong không gian yên bình, dân dã…
Từ diện tích gần 20ha nuôi trữ cá đồng mùa nước nổi triển khai năm 2022, đến nay HTX Dịch vụ nông nghiệp sinh thái Quyết Tiến (xã Phú Thọ, Đồng Tháp) đã nhanh chóng mở rộng diện tích lên 170ha, thu hút khoảng 70 hộ tham gia. Để phát huy hiệu quả mô hình, HTX kết hợp phát triển du lịch sinh thái, trồng lúa theo hướng hữu cơ.
“Trên cùng một diện tích, vào mùa khô thì chúng tôi sản xuất lúa, mùa lũ thì nuôi trữ cá đồng và làm du lịch, từ đó giúp bà con có thêm nguồn thu và gắn kết cộng đồng. HTX cũng đang từng bước xây dựng thương hiệu gạo riêng, hướng tới một chuỗi giá trị khép kín, bền vững”, anh Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp sinh thái Quyết Tiến cho biết.

Xây dựng mô hình kiểu mẫu về nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại
Là địa phương được lựa chọn xây dựng đề án thử nghiệm chủ trương phát triển nông nghiệp sinh thái nông thôn hiện đại nông dân văn minh của Đảng theo Nghị quyết 19/NQ-TW, tỉnh Đồng Tháp định hướng trong thời gian tới là tiếp tục huy động, tập trung nguồn lực triển khai các chương trình, đề án, dự án,… theo hướng bền vững, thuận thiên. Cụ thể: Từng bước triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng Đồng Tháp trở thành tỉnh tiên phong, kiểu mẫu về nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh đến năm 2030;
Phát triển nông nghiệp và nông thôn Đồng Tháp với phương châm “thượng tôn quy luật tự nhiên”, tránh can thiệp quá mức vào tự nhiên; Sử dụng hiệu quả, hợp lý tài nguyên thiên nhiên; Chủ động, tích cực thích ứng và tận dụng cơ hội từ biến đổi khí hậu như nguồn tài nguyên cho phát triển.
Tổ chức lại sản xuất, bố trí mùa vụ, thời vụ hợp lý giữa các vùng sản xuất 2 vụ lúa hoặc 1 lúa – 1 thủy sản; 2 lúa – 1 màu…; Tập trung phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp đặc thù ở mỗi địa phương gắn với du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp.
Ứng dụng chuyển đổi số để xây dựng nền nông nghiệp theo hướng xanh, sạch và hiện đại. Nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức cộng đồng để nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, nông nghiệp thuận thiên, thích ứng với biến đổi khí hậu cùng với các hoạt động bảo vệ sinh thái và môi trường trong canh tác nông nghiệp bền vững, hiệu quả.

Không nên áp đặt mô hình chung, chuyển đổi phải có lộ trình
Trong khi đó, lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang cho rằng, sinh kế truyền thống đang bộc lộ nhiều hạn chế, rủi ro và không còn bền vững. Phần lớn người dân vẫn sống dựa vào trồng lúa, nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi nhỏ lẻ – là những ngành rất dễ tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu.
Nếu trồng lúa vụ 3 hoặc lúa đơn canh ở vùng đất kém hiệu quả thì vừa chi phí cao, vừa gây thoái hóa đất, lại dễ mất trắng khi thời tiết thay đổi. Thu nhập nông hộ thấp, dễ bị rơi vào tái nghèo khi gặp thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Vì vậy cần có mô hình sinh kế mới, giúp đa dạng hóa thu nhập, tăng khả năng chống chịu với thiên tai, và đảm bảo bền vững lâu dài.
An Giang là tỉnh nằm ở đầu nguồn sông Mekong, giáp biên giới Campuchia, nên dễ bị ảnh hưởng bởi lũ thượng nguồn, xâm nhập mặn và sạt lở ven sông. Có nhiều vùng đồng bằng trũng thấp, vùng đất phèn, đất cát, khả năng thoát nước kém nên khi biến đổi khí hậu diễn ra – như nhiệt độ tăng, mưa bất thường, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế truyền thống, đặc biệt là lĩnh vực trồng lúa và nuôi thủy sản.
Do đó, mô hình “canh tác lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu” đã được ngành nông nghiệp tỉnh An Giang triển khai với nhiều biện pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm tối ưu hóa sản xuất và bảo vệ môi trường.
Các kỹ thuật bao gồm: Sạ lúa theo cụm giúp tăng tỷ lệ nảy mầm và tiết kiệm giống; giảm lượng giống gieo xuống phù hợp với điều kiện đất phèn mặn; sử dụng phân bón chuyên dụng; áp dụng quản lý nước hiệu quả thông qua hệ thống thủy lợi cải tiến, giúp duy trì độ ẩm phù hợp, hạn chế xâm nhập mặn và phèn độc hại.
Nhờ đó, mô hình không chỉ giảm chi phí sản xuất hơn 1,3 triệu đồng/ha mà còn nâng cao lợi nhuận trên 4,3 triệu đồng/ha so với ruộng đối chứng.

Tương tự, mô hình “nuôi cá xen canh trên ruộng lúa” được tỉnh này nhấn mạnh như một giải pháp sáng tạo và hiệu quả nhằm thích ứng với điều kiện ngập lũ đặc trưng của vùng ĐBSCL. Theo đó, khi diện tích ruộng lúa ngập nước có thể kết hợp nuôi cá, tận dụng nguồn nước, thức ăn tự nhiên phong phú trong ruộng, đồng thời giảm chi phí đầu tư cho thức ăn nuôi trồng. Hay mô hình lúa – tôm (con tôm ôm cây lúa) kết hợp nuôi tôm và trồng lúa trên cùng một diện tích đất, mang lại hiệu quả kinh tế và sinh thái rõ rệt. Người dân vừa thu hoạch lúa vừa khai thác tôm, tạo nguồn thu kép và nâng cao tổng thu nhập.
Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang đánh giá, việc xen canh nói trên giúp giảm rủi ro khi một trong hai sản phẩm gặp thiên tai hoặc dịch bệnh, đồng thời cải thiện cân bằng hệ sinh thái, giảm sâu bệnh cho cây lúa nhờ vi sinh vật trong đất và nước.
Tuy nhiên để phát huy hiệu quả, các địa phương không nên áp đặt một mô hình chung cho tất cả các nơi, mỗi vùng có điều kiện khác nhau, nên cần khảo sát thực trạng và lựa chọn mô hình phù hợp. Quá trình chuyển đổi thích ứng phải có lộ trình, đảm bảo liên kết thị trường tiêu thụ sản phẩm thì mô hình mới thành công và có khả năng nhân rộng cao.
Nguồn: https://danviet.vn/nong-dan-mien-tay-co-thu-nhap-deu-dan-nong-thon-dep-len-nho-nhung-chieu-kiem-tien-trong-mua-lu-doc-dao-d1377704.html