Đường sắt tự chủ công nghệ “bộ não”, tự tin tiếp nhận dự án đường sắt tốc độ cao

Chủ tịch HĐTV Tổng công ty đường sắt Việt Nam Đặng Sỹ Mạnh khẳng định, đơn vị đã có bước chuyển mình từ phụ thuộc sang tự chủ công nghệ lõi thông tin tín hiệu đường sắt, sẵn sàng tiếp nhận quản lý, bảo trì, vận hành, khai thác đường sắt tốc độ cao.

Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam là “bài toán” với chủ đầu tư

Tại Nghị quyết số: 172/2024/QH15 của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam đã nêu rõ, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) tiếp nhận quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng và tổ chức vận hành, khai thác; huy động các doanh nghiệp khác đầu tư phương tiện; tiếp tục tái cơ cấu, xây dựng mô hình quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng bảo đâm thống nhất, hiện đại, hiệu quả; tham gia phát triển công nghiệp đường sắt.

Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. (Ảnh: AI khởi tạo)

Đến nay, Chính phủ đã giao cho các địa phương và Tổng công ty đường sắt Việt Nam thực hiện, các dự án đường sắt và Tổ hợp công nghiệp đường sắt, tái cơ cấu Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

Đối với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam có vận tốc trên 300 km/h đặt ra “bài toán” với chủ đầu tư, đơn vị tiếp nhận quản lý vận hành không chỉ về vốn mà còn về làm chủ công nghệ, quản lý, vận hành, khai thác trong tương lai.

Để dễ dàng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng và tổ chức vận hành, khai thác, ngay từ ban đầu triển khai dự án, Chính phủ, Bộ Xây dựng cần tính toán tới phương án giao Tổng công ty Đường sắt Việt Nam được tham gia dự án từ lúc ban đầu để hiểu rõ được quá trình đầu tư, xây dựng. Như vậy, sẽ đem lại hiệu quả, giúp Tổng công ty Đường sắt Việt Nam dễ dàng bảo trì kết cấu hạ tầng và tổ chức vận hành, khai thác khi dự án đi vào hoạt động.

Từ thực tiễn vận hành tại các nhà ga đường sắt hiện hữu, đến nay, nhiều kỹ sư Việt Nam đã khẳng định được năng lực có thể tự chủ hệ thống tín hiệu, nếu được tham gia từ khâu đầu của dự án.

Đường sắt đang chuyển mình từ bị động sang chủ động, nghiên cứu sản xuất hệ thống thông tin tín hiệu. (Ảnh: TA)

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã làm chủ, tích hợp được nhiều công nghệ về hệ thống thông tin để điều độ chạy tàu, giúp giảm phụ thuộc vào nước ngoài, tiết kiệm chi phí cho Nhà nước.

Ngoài việc đầu tư hạ tầng với các dự án đường sắt mới và đường sắt tốc độ cao, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã “bắt tay” vào nghiên cứu sản xuất hệ thống thông tin tín hiệu – đây chính là “bộ não, hệ thần kinh trung ương” của hệ thống đường sắt quốc gia hiện hữu, là nền tảng công nghệ lõi quyết định năng lực tổ chức vận tải, độ an toàn cao.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cho biết, trong thời gian qua, đơn vị đã làm chủ, tích hợp được nhiều công nghệ về hệ thống thông tin để điều độ chạy tàu hiện hữu và hướng tới tự chủ công nghệ, sẵn sàng tiếp nhận quản lý, bảo trì, vận hành, khai thác và làm chủ chuyển giao công nghệ các dự án đường sắt.

Kể từ làm chủ được hệ thống thiết bị thông tin, những nhân viên trực chạy tàu và nhân viên gác chắn của ngành đường sắt làm việc bớt căng thẳng, thời gian tàu đi/đến chính xác, đảm bảo tuyệt đối an toàn.

Hệ thống thông tin tín hiệu camera tại các đường ngang nhằm cảnh báo an toàn chạy tàu. (Ảnh: TA)

Nói về hệ thống thông tin hiệu, ông Trần Hải Anh, Giám đốc Công ty cổ phần Thông tin tín hiệu đường sắt Vinh cho biết, trên tổng số 750 đường ngang từ Thanh Hóa – Vinh với chiều gần 400km (Km137+250-Km521+800), công ty đã lắp đặt, trang bị 150 đường ngang cảnh báo tự động và cáp quang dọc tuyến, truyền hình ảnh trực tiếp từ các đường ngang này về trung tâm giám sát trực 24h để theo dõi, cảnh báo khi có sự cố trước khi tàu chạy qua nhằm đảm bảo an toàn chạy tàu tại các đường ngang.

Ông Hải Anh cho biết, các hệ thống thiết bị liên khóa điều khiển tín hiệu, ghi hay cảm biến tại đường ngang hay trên đầu máy tàu được kết nối liên kết chặt chẽ giúp công tác điều hành chạy tàu thống nhất, thông suốt và an toàn.

Đường sắt chuyển mình từ phụ thuộc sang tự chủ

Là đơn vị quản lý 600km đường sắt qua 6 tỉnh, thành, ông Bùi Đình Sỹ, Giám đốc Công ty cổ phần Thông tin tín hiệu đường sắt Hà Nội cho biết, hiện nay hệ thống thông tin tín hiệu trên các tuyến khác nhau, thậm chí trên cùng một tuyến có nhiều công nghệ từ lạc hậu đến hiện đại và được cải tạo nâng cấp bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như: tuyến Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh đến ga Đồng Giao (tỉnh Ninh Bình) dùng liên khóa điện tử SSI của liên danh nhà thầu Alstom (Pháp); một số tuyến khác dùng hệ thống liên khóa rơle 6502 (hệ thống tín hiệu đường sắt tự động của Trung Quốc).

Đường sắt Việt Nam đang làm chủ công nghệ hệ thống thông tin tín hiệu tuyến đường sắt hiện hữu. (Ảnh: TA)

Ông Sỹ thừa nhận, một số hệ thống thiết bị không còn được đối tác nước ngoài sản xuất, dẫn tới khó khăn trong công tác quản lý bảo trì và đối tác nước ngoài đã “ép giá” và đẩy mức nâng cấp, sửa chữa lên cả trăm tỷ đồng.

Xuất phát từ thực tiễn này, ngành đường sắt đã tự chủ hoàn toàn công nghệ từ thiết kế, chế tạo, thi công lắp đặt, đồng bộ hóa hệ thống thông tin tín hiệu trên các tuyến đường sắt hiện hữu đang khai thác với công nghệ hiện đại như các nước đường sắt phát triển, không phụ thuộc nước ngoài; giảm được nhiều nhân lực bảo trì và điều hành tại các ga, trung tâm điều hành, tăng hiệu quả khai thác.

“Đáng chú ý, các kỹ sư, công nhân VNR hiện đã làm chủ hoàn toàn công nghệ thiết kế, thi công hệ thống liên khóa rơ-le 6502 (hệ thống tín hiệu đường sắt tự động của Trung Quốc) và tích hợp với các thiết bị điện tử hiện đại của các tập đoàn hàng đầu như Alstom (Pháp), được triển khai trên 18 ga và đã tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước hàng trăm tỷ đồng, rút ngắn thời gian triển khai dự án và đảm bảo tuyệt đối an toàn chạy tàu,” ông Sỹ nhấn mạnh.

Nói về việc làm chủ hệ thống thông tin tín hiệu, ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty đường sắt Việt Nam cho biết, các nghiên cứu này ngoài việc đảm bảo an toàn chạy tàu còn góp phần hình thành nên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại đối với đội ngũ nhân lực của đường sắt để làm chủ công nghệ và nội địa hóa sản phẩm, tiếp cận gần với công nghệ của các nước đường sắt tiên tiến trên thế giới nhằm tiếp nhận, quản lý bảo trì và vận hành các dự án đường sắt mới và đường sắt tốc độ cao theo Nghị quyết của Quốc hội đã giao cho đường sắt.

“Với việc làm chủ công nghệ, kinh phí đầu tư bảo trì thấp hơn rất nhiều so với nhà thầu nước ngoài thực hiện; chủ động trong công tác vận hành, bảo trì, sửa chữa nâng cấp, kết nối giữa các tuyến; tạo nền tảng nâng cấp áp dụng cho các tuyến metro và đường sắt mới với vận tốc lên tới 200km/h,” ông Vượng nhìn nhận.

Đường sắt sẵn sàng tiếp nhận quản lý, bảo trì, vận hành, khai thác và làm chủ chuyển giao công nghệ các dự án đường sắt mới, đường sắt tốc độ cao, giảm phụ thuộc nước ngoài. (Ảnh: TA)

Theo ông Đặng Sỹ Mạnh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty đường sắt Việt Nam, tại Nghị quyết của Quốc hội, VNR được giao tiếp nhận quản lý, bảo trì và vận hành khai thác tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và xây dựng tổ hợp công nghiệp đường sắt.

“Đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ với Tổng công ty đường sắt Việt Nam”, ông Mạnh bày tỏ.

Ông Mạnh khẳng định: “Đường sắt đã có bước chuyển mình từ phụ thuộc sang tự chủ công nghệ lõi thông tin tín hiệu. Là một doanh nghiệp Nhà nước có đầy đủ kinh nghiệm, năng lực và hệ sinh thái kỹ thuật, đường sắt sẵn sàng tiếp nhận quản lý, bảo trì, vận hành, khai thác và làm chủ chuyển giao công nghệ các dự án đường sắt mới, đường sắt tốc độ cao, giảm phụ thuộc nước ngoài”.

Với các dự án đường sắt mới, VNR mong muốn được tham gia từ bước đầu với thực hiện thi công xây lắp, kiểm tra thử nghiệm và vận hành chạy thử toàn bộ hệ thống.

Tổng công ty đường sắt Việt Nam  đề ra mục tiêu đến năm 2030 làm chủ hoàn toàn công tác bảo trì, vận hành các tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, đảm nhận 80 – 90% hạng mục điện – tín hiệu trong các dự án đường sắt mới.

Hướng tới năm 2045, ngành thông tin tín hiệu đường sắt Việt Nam chuyển mình từ đơn vị tiếp nhận công nghệ sang chế tạo và cung ứng giải pháp kỹ thuật cao. Trong đó, VNR thiết lập hệ sinh thái công nghiệp sản xuất các phần thiết bị cứng đạt tiêu chuẩn quốc tế, giảm tối đa sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng nước ngoài; phát triển và làm chủ hoàn toàn các thuật toán lõi, hệ điều hành điều khiển tập trung và hệ thống liên khóa điện tử, đảm bảo an toàn chạy tàu; thực hiện xuất khẩu dịch vụ tư vấn, thiết kế, lắp đặt và bảo trì hệ thống thông tin tín hiệu hiện đại cho các dự án đường sắt.


Nguồn: https://danviet.vn/duong-sat-tu-chu-cong-nghe-bo-nao-tu-tin-tiep-nhan-du-an-duong-sat-toc-do-cao-d1400853.html